Bệnh viêm túi mật

Купить СНПЧ А7 Воронеж, оперативная доставка

Viêm túi mật! Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm: Đau ở phần trên bên phải bụng, đau bụng lan lên vai phải, đau tức bụng khi chạm vào, đổ mồ hôi, buồn nôn, ói mửa, sốt, ớn lạnh, bụng đầy hơi.


Định nghĩa
Túi mật là một cơ quan nhỏ hình quả lê ở phía bên phải của bụng, ngay dưới gan. Túi mật nắm giữ một chất lỏng gọi là mật tiêu hóa tiết vào ruột non.
Trong nhiều trường hợp, viêm túi mật là do sỏi mật và các ống dẫn ra khỏi túi mật. Kết quả là sự tích tụ mật có thể gây ra viêm. Nguyên nhân khác gây viêm túi mật bao gồm nhiễm trùng, chấn thương và các khối u.
Nếu không chữa trị, viêm túi mật có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như tổn thương mô, chảy máu trong túi mật và nhiễm trùng lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Sau khi chẩn đoán, viêm túi mật đòi hỏi ở lại bệnh viện. Điều trị cuối cùng viêm túi mật thường bao gồm loại bỏ túi mật .


Các triệu chứng: Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm túi mật có thể bao gồm:
- Đau ở phần trên bên phải của bụng, nếu không được điều trị, có thể tăng dần vài giờ hoặc ngày và đau tăng khi hít thở sâu.
- Đau lan từ bụng đến vai phải.
- Đau tức bụng khi chạm vào.
- Đổ mồ hôi.
- Buồn nôn.
- Ói mửa.
- Ăn mất ngon.
- Sốt.
- Ớn lạnh.
- Bụng đầy hơi.
Viêm túi mật dấu hiệu và triệu chứng thường xảy ra sau bữa ăn, đặc biệt là một bữa ăn lớn hay bữa ăn nhiều chất béo. Nếu có bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm túi mật, liên hệ với bác sĩ ngay. Viêm túi mật tự nó không phải là một cấp cứu y tế. Nhưng nếu không được điều trị, viêm túi mật có thể dẫn đến nghiêm trọng, biến chứng đôi khi đe dọa mạng sống. Viêm túi mật thường đòi hỏi phải nhập viện.


Nguyên nhân
Túi mật là một cơ quan nhỏ hình quả lê ở phía bên phải của bụng, ngay dưới gan. Túi mật nắm giữ chất lỏng được gọi là mật, phát hành sau khi ăn, đặc biệt là sau khi ăn thực phẩm giàu chất béo, để hỗ trợ tiêu hóa. Mật đi ra khỏi túi mật thông qua một ống nhỏ gọi là ống nang, đến ống khác gọi là ống mật và sau đó vào ruột non. Viêm túi mật xảy ra khi túi mật bị viêm.
Viêm túi mật có thể xảy ra đột ngột (viêm túi mật cấp tính), hoặc nó có thể phát triển chậm theo thời gian (viêm túi mật mãn tính).


Nguyên nhân của viêm túi mật bao gồm:
- Sỏi mật. Phần lớn các trường hợp viêm túi mật là kết quả của sỏi mật.
- Thương tích. Tổn thương túi mật, đặc biệt là chấn thương đó xảy ra như là kết quả của chấn thương đến bụng hoặc phẫu thuật có thể gây ra viêm túi mật.
- Nhiễm trùng. Nhiễm trùng trong mật có thể dẫn đến viêm túi mật.
- Khối u. Một khối u có thể ngăn mật thoát ra đúng khỏi túi mật, gây tích tụ mật có thể dẫn đến viêm túi mật.
Yếu tố nguy cơ: Các yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ viêm túi mật:
- Sỏi mật. Hầu hết các trường hợp viêm túi mật được liên kết đến sỏi mật. Nếu có sỏi mật, đang có nguy cơ cao phát triển viêm túi mật.
- Lao động nặng kéo dài sau sinh. Lao động kéo dài có thể gây thiệt hại cho túi mật, tăng khả năng phát triển viêm túi mật trong những tuần sau khi sinh.
- Chấn Thương. chấn thương bụng nghiêm trọng có thể làm tăng nguy cơ viêm túi mật.
- Bệnh tiểu đường. Các biến chứng của bệnh tiểu đường có thể dẫn đến thiệt hại túi mật và tăng nguy cơ phát triển viêm túi mật.
Các biến chứng: Viêm túi mật có thể dẫn đến một số biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:
- Túi mật căng to. Nếu bị viêm túi mật do sự tích tụ mật, nó có thể căng ra và sưng lên vượt quá kích thước bình thường của nó (hydrops), có thể gây ra đau và làm tăng nguy cơ thủng túi mật, cũng như nhiễm trùng và chết mô.
- Nhiễm trùng. Nếu mật tích tụ trong túi mật gây viêm túi mật, mật có thể bị nhiễm bệnh (empyema). Điều này có thể bị nhiễm trùng làm tăng nguy cơ chảy máu vào túi mật và có thể cho phép sự lây nhiễm lan rộng với máu hoặc đến các bộ phận khác của cơ thể.
- Hoại tử. Nếu không điều trị viêm túi mật có thể gây ra chết các mô trong túi mật, do đó có thể dẫn đến thủng túi mật, hoặc nó có thể gây ra vỡ túi mật.
- Thủng. Thủng túi mật có thể được gây ra bởi trướng túi mật hoặc hoại tử xảy ra như là kết quả của viêm túi mật.


Phòng chống:
Bởi vì hầu hết các trường hợp viêm túi mật là do sỏi mật, có thể giảm nguy cơ viêm túi mật bằng cách thực hiện các bước sau đây để ngăn ngừa sỏi mật. Không được bỏ bữa. Hãy cố gắng vào bữa ăn bình thường mỗi ngày. Bỏ bữa ăn hay ăn chay có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật. Tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần. Hoạt động ít có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật, do đó, kết hợp hoạt động thể chất vào ngày. Nếu chưa hoạt động tích cực gần đây, bắt đầu từ từ và làm việc theo cách riêng lên đến 30 phút hoặc nhiều hơn, các hoạt động trên hầu hết các ngày trong tuần.
Giảm cân từ từ. Nếu cần phải giảm cân. Nhanh chóng giảm cân có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật. Mục đích để mất 0,5 đến khoảng 1 kg một tuần.
Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Bệnh béo phì và thừa cân là tăng nguy cơ sỏi mật. Làm việc để đạt được một trọng lượng khỏe mạnh bằng cách giảm số lượng calo ăn và tăng lượng hoạt động thể chất. Một khi đạt được một trọng lượng khỏe mạnh, làm việc để duy trì trọng lượng bằng cách tiếp tục chế độ ăn uống khỏe mạnh và tiếp tục tập thể dục.  


Phương pháp điều trị:
Điều trị viêm túi mật bằng Đông y khá phong phú; nhưng chúng hầu như và chỉ thích hợp với thể khí trệ và thấp nhiệt. Ngoài ra, sau khi phẫu thuật điều trị sỏi đường mật, có thể dùng thuốc Đông y để phòng bệnh tái phát.


Thể khí trệ
Triệu chứng: Vùng hạ sườn phải đau tức âm ỉ hay đau nhiều, có lúc không đau, miệng đắng, họng khô, không muốn ăn uống, không sốt cao, có hoặc không có vàng da, mạch nhanh trên 90 lần/phút.
Bài thuốc: Kim tiền thảo, nhân trần mỗi thứ 40 g, uất kim, chỉ xác mỗi thứ 8 g, sài hồ, xa tiền tử mỗi thứ 16 g, khổ luyện tử 6 g, chi tử 12 g, đại hoàng 4 g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc đun thay nước uống hằng ngày lâu dài. Nếu đại tiện phân lỏng, có thể giảm hoặc bỏ hẳn vị đại hoàng.


Thể thấp nhiệt
Triệu chứng: Vùng hạ sườn phải đau tức, miệng đắng họng khô, lợm giọng, buồn nôn, sốt sợ lạnh hay lúc sốt lúc rét, niêm mạc mắt vàng, da vàng, nước tiểu đỏ hay vàng, táo bón, lưỡi bẩn, rêu lưỡi vàng dày.
Bài thuốc: Long đởm thảo, hoàng cầm, sơn chi tử mỗi thứ 12 g; sài hồ 16 g, cam thảo, đại hoàng mỗi thứ 4 g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng trong giai đoạn bệnh cấp, có sốt 5 đến 10 thang. Giai đoạn ổn định có thể quay lại dùng bài trên.
Cách gia giảm như sau: Nếu cảm giác bụng đầy, thêm mộc hương, hương phụ; uất kim mỗi thứ 8 g; sốt và vàng da nhiều, thêm hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ 12 g; bồ công anh 40 g; nếu đau nhiều thêm diên hồ sách 12 g và mộc hương 4 g; nếu nôn mửa, lợm giọng, thêm trần bì, bán hạ mỗi thứ 8 g; táo bón thêm mang tiêu 20 g.


Lưu ý: Không dùng phương pháp y học cổ truyền đơn thuần trong các trường hợp có nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Người bệnh cần được thầy thuốc theo dõi để kịp thời can thiệp bằng y học hiện đại như: phẫu thuật, chống nhiễm trùng, nhiễm độc...

Sản phẩm trưng bày

001959340
Hôm nay
Hôm qua
89
5384

slider
slider
slider